
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại Diễn đàn - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thưa Ngài Ito Naoki, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam!
Thưa Ngài Yamakawa Hiroshi, Chủ tịch Cơ quan Vũ trụ Nhật Bản;
Thưa các đồng chí lãnh đạo ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương; đại diện cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam!
Thưa toàn thể các đồng chí và quý vị đại biểu!
Hôm nay, hòa trong khí thế mới của cả nước đang nỗ lực vào cuộc triển khai ngay Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; theo chủ trương của Bộ Chính trị và đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, tôi rất vui mừng tham dự Khai mạc Diễn đàn tầm nhìn vũ trụ Việt Nam - Nhật Bản 2026 với chủ đề "Hợp tác cho kỷ nguyên mới" và chứng kiến Lễ khánh thành công trình Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc.
Đây là một sự kiện rất có ý nghĩa và phù hợp với tầm nhìn, chủ trương, đường lối mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã xác định, Việt Nam phát triển nhanh, bền vững dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Thay mặt Chính phủ Việt Nam và với tình cảm cá nhân mình, tôi gửi tới Ngài Đại sứ, các đồng chí, quý vị đại biểu, các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong và ngoài nước lời chào trân trọng, lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Tại sự kiện quan trọng hôm nay, chúng ta đã được tham quan Bảo tàng Vũ trụ Việt Nam, Trung tâm Điều khiển - Vận hành Vệ tinh và được nghe ý kiến phát biểu sâu sắc, tâm huyết, sát thực tiễn của lãnh đạo các cơ quan của Việt Nam, Nhật Bản cùng các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ. Chính phủ Việt Nam xin trân trọng cảm ơn và sẽ tiếp thu tối đa các ý kiến quý báu với tinh thần cầu thị cao nhất, suy nghĩ thấu đáo nhất, hành động quyết liệt, hiệu quả nhất.
Sau đây, tôi chia sẻ với các đồng chí, quý vị đại biểu một số suy nghĩ, cảm tưởng như sau:
1. Về vị trí, vai trò của khoa học công nghệ không gian vũ trụ trong thời đại ngày nay
Vị trí: Khoa học không gian vũ trụ là không gian phát triển mới đầy tiềm năng, với vô số tài nguyên chiến lược. Khoa học không gian vũ trụ là đỉnh cao của sự hội tụ các ngành khoa học cơ bản hiện đại; giữ vị trí tiên phong trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là biểu tượng cho tầm vóc trí tuệ, phản ánh trình độ, vị thế về khoa học công nghệ của mỗi quốc gia[1].
Vai trò: Khoa học không gian vũ trụ là một trong những hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế số và bảo đảm an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia. Sở hữu và phát triển công nghệ vệ tinh giúp duy trì vận hành mạng lưới viễn thông và hệ thống định vị toàn cầu. Cung cấp dữ liệu số quan trọng để mỗi quốc gia có thể chủ động giám sát tài nguyên và dự báo các thảm họa thiên tai; hỗ trợ đắc lực cho ứng phó biến đổi khí hậu. Khoa học không gian vũ trụ còn thúc đẩy các đột phá quan trọng trong phát triển vật liệu mới và y học thực nghiệm. Đây là những động lực quan trọng cho sự phát triển bền vững và kiến tạo không gian hợp tác giữa các quốc gia.
Quan điểm của Liên Hợp Quốc: Không gian vũ trụ thể hiện tại 03 nguyên tắc cốt lõi: (1) Không gian là tài sản chung: Vũ trụ không thuộc về riêng quốc gia nào; việc khám phá phải vì lợi ích của tất cả các nước, bất kể trình độ phát triển kinh tế hay khoa học; (2) Sử dụng vì mục đích hòa bình: Nghiêm cấm việc đặt vũ khí hủy diệt hàng loạt quỹ đạo hoặc thiết lập các căn cứ quân sự trên các thiên thể; (3) Tự do khám phá: Mọi quốc gia đều có quyền tự do nghiên cứu khoa học trong vũ trụ trên cơ sở bình đẳng.
Năm 2021, Liên Hợp Quốc thông qua Chương trình nghị sự Space2030 nhằm định hướng sử dụng không gian vũ trụ vì mục đích hòa bình và thúc đẩy phát triển bền vững.
Nhà khoa học Konstantin Tsiolkovsky - một trong những nhà khoa học đầu tiên của ngành du hành vũ trụ hiện đại, đã khẳng định: "Trái Đất là cái nôi của nhân loại, nhưng con người không thể sống mãi trong cái nôi đó". Chúng ta càng nhận thức sâu sắc rằng, đầu tư vào công nghệ vũ trụ chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững và tương lai lâu dài của các thế hệ mai sau.
Nhân loại đang chứng kiến những bước tiến nhảy vọt mang tính lịch sử trong việc chinh phục không gian với sự dịch chuyển mạnh mẽ sang kỷ nguyên "Vũ trụ mới" (New Space). Điểm đột phá là sự phát triển của các dòng vệ tinh nhỏ với ưu thế về chi phí thấp, thời gian triển khai dự án ngắn, được tích hợp với trí tuệ nhân tạo cho phép tự động hóa, mở rộng nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới, đẩy nhanh khâu xử lý, phân tích dữ liệu. Biến dữ liệu không gian nhanh chóng trở thành tài nguyên có giá trị, phục vụ phát triển cho các quốc gia.
Khoa học công nghệ vũ trụ cũng chuyển mạnh cách tiếp cận từ "không gian vũ trụ phục vụ nghiên cứu" sang "không gian vũ trụ phục vụ phát triển", theo hướng mở, gắn với phục vụ nhân loại, nâng cao năng lực chống chịu quốc gia và trở thành động lực tăng trưởng mới.
Nhật Bản là một trong những quốc gia tiên phong trong khám phá và chinh phục không gian. Với tầm nhìn chiến lược, sự bền bỉ và tinh thần sáng tạo không ngừng nghỉ, Nhật Bản đã kiến tạo nên những thành tựu có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực hàng không vũ trụ. Chính phủ Nhật Bản đặt ra mục tiêu chuyển từ mô hình sản xuất vệ tinh và dịch vụ theo kiểu đơn chiếc, quy mô hạn chế sang mô hình có khả năng sản xuất hàng loạt vệ tinh, tăng tần suất phóng, mở rộng khai thác dữ liệu và hình thành chuỗi cung ứng vũ trụ có sức cạnh tranh quốc tế. Điều này giúp củng cố tính tự chủ của Nhật Bản trong hoạt động vũ trụ, đồng thời mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Đây là kinh nghiệm rất đáng tham khảo đối với Việt Nam.
2. Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản
Sau hơn nửa thế kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao (từ năm 1973), Việt Nam và Nhật Bản đã cùng nhau vun đắp mối quan hệ hữu nghị hợp tác ngày càng tin cậy, toàn diện, thực chất, hiệu quả. Hiện nay, Nhật Bản là đối tác hợp tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, đứng thứ nhất về hợp tác ODA và lao động, thứ ba về đầu tư và thứ tư về thương mại, du lịch.
Trong lĩnh vực không gian vũ trụ, hợp tác Việt Nam - Nhật Bản ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, đa dạng và hiệu quả hơn, từ trao đổi chuyên môn, đào tạo nhân lực đến hợp tác trong phát triển vệ tinh, cơ sở hạ tầng, công nghệ, vận hành và khai thác dữ liệu; từ hợp tác song đến các diễn đàn đa phương như Diễn đàn các Cơ quan Vũ trụ khu vực châu Á - Thái Bình Dương và các diễn đàn quốc tế khác. Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực không gian vũ trụ không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ kỹ thuật hay chuyển giao công nghệ, mà đã góp phần quan trọng hình thành nền tảng nhân lực, hạ tầng, năng lực quản lý dự án và hệ sinh thái ứng dụng cho Việt Nam; đồng thời trở thành một điểm sáng tiêu biểu trong quan hệ hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai nước.
Hôm nay, sự kiện khánh thành Trung tâm Vũ trụ Việt Nam đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Công trình Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc là tổ hợp hạ tầng hiện đại, có quy mô và trình độ công nghệ thuộc nhóm tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á, được triển khai bằng nguồn vốn vay ODA của Chính phủ Nhật Bản với tổng mức đầu tư hơn 7.000 tỷ đồng trên diện tích 09 ha.
Công trình gồm Trung tâm Điều hành, Trung tâm Khai thác và Ứng dụng dữ liệu vệ tinh, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển vệ tinh, hệ thống mặt đất với ăng-ten đường kính 9,3 mét, Bảo tàng Vũ trụ, Trung tâm đa phương tiện, Nhà khách Quốc tế, Đài Thiên văn Nha Trang và các hạ tầng hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ.
Đây là công trình có ý nghĩa quan trọng, là kết quả tích lũy của cả một chặng đường phát triển công nghệ vệ tinh của Việt Nam, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng từ giai đoạn xây dựng nền tảng sang giai đoạn vận hành, khai thác và từng bước làm chủ công nghệ vũ trụ. Đồng thời, công trình còn mang tính biểu tượng cho quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống tốt đẹp Việt Nam - Nhật Bản.
Nhân dịp này, tôi đánh giá cao và trân trọng cảm ơn sự đóng góp quý báu của Chính phủ, các tổ chức và doanh nghiệp Nhật Bản đã chung tay cùng Chính phủ, doanh nghiệp và Nhân dân Việt Nam vun đắp nên những thành quả hợp tác hết sức tốt đẹp thời gian qua, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam và Nhật Bản tiếp tục cùng nhau vươn tới những tầm cao mới, vì sự phát triển thịnh vượng của mỗi quốc gia và vì hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
3. Sự phát triển của khoa học công nghệ không gian vũ trụ tại Việt Nam
3.1. Khái quát những bước phát triển của khoa học không gian vũ trụ Việt Nam
Từ xa xưa, trong văn hóa người Việt, cha ông ta đã nghĩ đến việc bay lên vũ trụ, chinh phục không gian qua những câu chuyện dân gian về Chị Hằng và Chú Cuội trên cung trăng, sự tích bánh chưng, bánh dầy.
Năm 1980, bắt đầu hành trình khi Việt Nam trở thành quốc gia châu Á đầu tiên có người bay vào vũ trụ. Chuyến bay của anh hùng Phạm Tuân khi ấy không chỉ là niềm tự hào mà là hoài bão của nhiều thế hệ người Việt về một giấc mơ lớn chinh phục không gian.
Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Vũ trụ đến năm 2020 (do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam khởi thảo), mục tiêu phát triển công nghệ vũ trụ phục vụ thiết thực và có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Năm 2008, Việt Nam thành công phóng vệ tinh đầu tiên - vệ tinh viễn thông VINASAT-1, phục vụ liên lạc và phát thanh truyền hình.
Năm 2012, VINASAT-2 ra đời, mở rộng phạm vi phủ sóng, góp phần thu hẹp khoảng cách số, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa.
Năm 2013, PicoDragon - vệ tinh đầu tiên do Việt Nam tự phát triển được phóng lên quỹ đạo, đánh dấu bước tiến quan trọng trong năng lực chế tạo nội địa.
Năm 2019, MicroDragon (nặng 50kg), thành quả hợp tác Việt Nam - Nhật Bản, được phóng lên phục vụ viễn thám, nâng cao năng lực quản lý tài nguyên và ứng phó thiên tai.
Năm 2021, vệ tinh NanoDragon do chính Trung tâm vũ trụ Việt Nam tự chủ phát triển đã phóng thành công, góp phần nâng cao năng lực chế tạo vệ tinh của Việt Nam.
Hiện nay, vệ tinh radar LOTUSat-1 (nặng 600 kg) đã hoàn thành chế tạo và đang chờ được đưa lên quỹ đạo để vận hành khai thác, với khả năng hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, là minh chứng rõ nét cho bước tiến vượt bậc của Việt Nam trong làm chủ công nghệ tiên tiến.
Có thể thấy, khoa học công nghệ vũ trụ Việt Nam đã có những bước đi đầu tiên rất quan trọng theo đúng tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: "Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên", khẳng định trí tuệ, bản lĩnh, năng lực tự chủ của người Việt và đề cao hợp tác quốc tế, trong đó có hợp tác với Nhật Bản. Trong hành trình đó, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam là đơn vị nòng cốt của quốc gia trong nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và từng bước làm chủ công nghệ vũ trụ, là đơn vị duy nhất trong cả nước đã thiết kế, chế tạo và phóng thành công các vệ tinh "Made in Vietnam" lên quỹ đạo.
3.2. Về mục tiêu, tầm nhìn và quan điểm phát triển
Việt Nam nhất quán quan điểm phát triển không gian vũ trụ vì mục đích hòa bình, tuân thủ công ước của Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, vì mục tiêu phát triển bền vững, vì lợi ích của Nhân dân, của doanh nghiệp và của quốc gia; đồng thời bảo đảm tính độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, tự tin dân tộc và đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế thực chất, hiệu quả với tinh thần "vươn xa ra biển lớn, bay cao lên vũ trụ, tiến sâu vào lòng đất" để khai thác tối ưu và hiệu quả tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam; để thúc đẩy tăng trưởng 2 con số và phát triển kinh tế - xã hội bao trùm, bền vững.
Việt Nam phát triển công nghệ vũ trụ để phục vụ những bài toán cụ thể cho phát triển đất nước; đây không chỉ là để có công nghệ, mà là kiến tạo giá trị thực chất; không phải chỉ dừng ở nghiên cứu, mà phải tiến mạnh đến ứng dụng, thương mại hóa và xây dựng năng lực tự chủ quốc gia; không chỉ cho hiện tại mà hướng đến tương lai lâu dài; không chỉ cho riêng Việt Nam mà khẳng định trách nhiệm của Việt Nam trong thúc đẩy hòa bình, hợp tác trên không gian vũ trụ.
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó thể hiện bước chuyển từ nhận thức sang hành động, từ định hướng chung sang xác lập công nghệ vũ trụ là một trong những lĩnh vực chiến lược cần ưu tiên đầu tư, phát triển và từng bước làm chủ, trong đó vệ tinh tầm thấp là một trong những sản phẩm quan trọng của công nghệ chiến lược này.
Tầm nhìn đến năm 2030: Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia có trình độ phát triển về khoa học và công nghệ vũ trụ ở mức trung bình khá trong khu vực Đông Nam Á. Sau năm 2030: Xây dựng năng lực quốc gia tự chủ về công nghệ vệ tinh, ứng dụng dữ liệu không gian để giải quyết các bài toán mang tính toàn cầu và an ninh quốc gia.
Các mục tiêu cụ thể đến năm 2030:
(1) Về hạ tầng và công nghệ: Làm chủ công nghệ vệ tinh, tự thiết kế, chế tạo các vệ tinh nhỏ quan sát Trái Đất có độ phân giải cao và vệ tinh viễn thông. Hoàn thiện hạ tầng mặt đất, xây dựng hệ thống trạm thu nhận, điều khiển và xử lý dữ liệu vệ tinh quốc gia.
(2) Về ứng dụng và kinh tế: Phổ cập ứng dụng dữ liệu, sử dụng dữ liệu không gian vào quản lý tài nguyên, môi trường, giám sát thiên tai, nông nghiệp thông minh và quy hoạch đô thị.
(3) Thương mại hóa: Thúc đẩy doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng công nghệ vũ trụ và dịch vụ giá trị gia tăng từ dữ liệu vệ tinh.
Phương châm hành động thời gian tới đúc rút với 20 chữ: "Khám phá không gian - Làm chủ công nghệ - Hợp tác bền chặt - Phát triển bền vững - Vũ trụ hòa bình".
3.3. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới
(1) Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách cho hoạt động vũ trụ phù hợp với điều kiện Việt Nam và thông lệ quốc tế; nghiên cứu, chuẩn bị cơ sở khoa học và thực tiễn để từng bước hoàn thiện khung khổ pháp lý, tiến tới xây dựng Luật vũ trụ của Việt Nam.
(2) Huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển khoa học công nghệ, trong đó có khoa học công nghệ không gian vũ trụ trên tinh thần "3 có: có sự đóng góp của Nhà nước; có sự đóng góp của doanh nghiệp; có sự đóng góp của Nhân dân, trong đó có sự đóng góp của các nhà khoa học, Viện trường". Tập trung thúc đẩy liên kết Viện - Trường - Doanh nghiệp; đẩy mạnh hợp tác công - tư; từng bước hình thành thị trường dịch vụ dữ liệu vệ tinh và hệ sinh thái ứng dụng công nghệ vũ trụ của Việt Nam.
(3) Khẩn trương xây dựng và triển khai các chương trình, đề án lớn về phát triển khoa học công nghệ vũ trụ quốc gia, trong đó tập trung nâng cao năng lực quan sát Trái Đất, phát triển hạ tầng dữ liệu vệ tinh dùng chung và nâng cao năng lực phân tích, cảnh báo, hỗ trợ điều hành theo thời gian thực.
(4) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học công nghệ vũ trụ, tập trung đào tạo nhân lực về hệ thống, vận hành, dữ liệu, an toàn thông tin.
(5) Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tiếp tục tổ chức vận hành Trung tâm Vũ trụ Việt Nam hiệu quả, an toàn, chuyên nghiệp và bền vững; phát huy đồng bộ các chức năng nghiên cứu, tích hợp, thử nghiệm, vận hành, khai thác dữ liệu, đào tạo và chuyển giao công nghệ; đưa Trung tâm thực sự trở thành hạ tầng năng lực lõi của quốc gia trong lĩnh vực khoa học và công nghệ vũ trụ.
(6) Tăng cường hợp tác quốc tế trong khoa học công nghệ vũ trụ, đặc biệt khai thác tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản, trong đó:
(i) Tiếp tục cụ thể hóa các định hướng lớn của lãnh đạo cấp cao hai nước thành các chương trình, kế hoạch, thỏa thuận và dự án hợp tác cụ thể trong lĩnh vực không gian vũ trụ; xác định rõ đầu mối, lộ trình, trách nhiệm và sản phẩm đầu ra, bảo đảm hợp tác đi vào thực chất, có kết quả đo đếm được.
(ii) Tập trung thúc đẩy hợp tác trong những lĩnh vực mà hai bên có nhu cầu và thế mạnh bổ sung cho nhau, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển giao công nghệ, vận hành và khai thác vệ tinh, phát triển ứng dụng viễn thám, xử lý và phân tích dữ liệu, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và phát triển hệ sinh thái công nghiệp vũ trụ.
(iii) Phối hợp chặt chẽ để phóng vệ tinh LOTUSat-1 vào cuối năm 2027 và khai thác hiệu quả; đồng thời mở rộng hợp tác theo hướng xây dựng năng lực lâu dài cho Việt Nam về quan sát Trái Đất, ứng dụng dữ liệu vệ tinh và từng bước phát triển các hệ vệ tinh nhỏ.
(iv) Tăng cường kết nối giữa các bộ, ngành, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp của hai nước; khuyến khích doanh nghiệp hai bên tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp vũ trụ, chuỗi cung ứng toàn cầu.
(v) Tiếp tục phát huy vai trò của các cơ chế đối thoại, diễn đàn và các chương trình hợp tác song phương, khu vực và quốc tế để làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực không gian vũ trụ.
Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần đẩy mạnh "3 tạo lập: Đoàn kết để tạo lập ra sức mạnh; Hợp tác để tạo lập ra lợi ích; Đối thoại để tạo lập ra niềm tin".
Chính phủ Việt Nam cam kết tạo thuận lợi hơn nữa để các tổ chức quốc tế, các đối tác phát triển, cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước tiếp tục hỗ trợ, đồng hành cùng Việt Nam phát triển khoa học công nghệ không gian vũ trụ trên tinh thần "3 đẩy mạnh, gồm (i) Đẩy mạnh hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, tham vấn chính sách; (ii) Đẩy mạnh hỗ trợ tài chính, kỹ thuật, phát triển hạ tầng; (iii) Đẩy mạnh về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực" và "3 cùng: (i) Cùng lắng nghe và thấu hiểu giữa doanh nghiệp với Nhà nước và người dân; (ii) Cùng chia sẻ tầm nhìn và hành động để hợp tác, hỗ trợ nhau cùng phát triển nhanh và bền vững; (iii) Cùng làm, cùng thắng, cùng hưởng, cùng phát triển; cùng chung niềm vui, hạnh phúc và sự tự hào".
Lễ Khánh thành Trung tâm Vũ trụ Việt Nam hôm nay không chỉ là sự kiện đánh dấu hoàn thành một công trình quan trọng, mà còn là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn vận hành, khai thác, làm chủ công nghệ, phát triển ứng dụng, hình thành thị trường và tạo ra giá trị thiết thực cho đất nước.
Tôi mong muốn và tin tưởng rằng, với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm; với quyết tâm của các bộ, ngành, địa phương; sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, nhà khoa học, kỹ sư; sự đồng hành chặt chẽ của các đối tác Nhật Bản và bạn bè quốc tế, Trung tâm vũ trụ Việt Nam sẽ trở thành "bệ phóng" chiến lược; lĩnh vực khoa học và công nghệ vũ trụ Việt Nam sẽ bay cao, bay xa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc vào không gian vũ trụ, đóng góp ngày càng thiết thực trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Chúc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tiếp tục phát huy tốt vai trò nòng cốt, vận hành và khai thác hiệu quả hạ tầng đã được đầu tư.
Chúc cho hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực không gian vũ trụ tiếp tục là điểm sáng, đạt được nhiều kết quả cụ thể, bền vững, lâu dài, chắc chắn và hiệu quả.
Chúc quý vị đại biểu sức khỏe, hạnh phúc và thành công.
Xin trân trọng cảm ơn./."
*Tiêu đề do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ đặt
[1] Quy mô kinh tế không gian vũ trụ toàn cầu đang tiến gần mốc 700 tỷ USD vào năm 2026 và ước đạt khoảng 1,8 nghìn tỷ USD vào năm 2035.